Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân từ thu nhập hợp pháp của vợ, chồng hoặc được vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung thì về nguyên tắc được xác định là tài sản chung của vợ chồng.
Trong trường hợp căn hộ được hai vợ chồng mua trong thời kỳ hôn nhân, có sự đóng góp của cả hai và giấy chứng nhận đứng tên cả vợ và chồng, căn nhà được xác định là tài sản chung của vợ chồng nếu không có căn cứ pháp lý khác.
Khi người chồng qua đời, toàn bộ căn nhà cũng không trở thành di sản thừa kế. Trước hết phải xác định phần tài sản thuộc về người vợ và phần tài sản thuộc về người chồng để lại.
.jpeg)
Chồng qua đời, người vợ gặp sự phản đối của bố mẹ chồng khi muốn bán nhà để trả nợ. Ảnh: AI
Khoản 1 và khoản 2 Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về việc giải quyết tài sản chung khi một bên vợ hoặc chồng chết.
Theo đó, người còn sống quản lý tài sản chung, trừ trường hợp di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế có thỏa thuận khác.
Khi có yêu cầu chia di sản, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng đã có thỏa thuận về chế độ tài sản.
Như vậy, nếu căn nhà là tài sản chung thì về nguyên tắc có thể xác định:
Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ và con nuôi của người chết.
Vì vậy, nếu người chồng không để lại di chúc và trường hợp thực tế đúng như tình huống nêu trên, phần tài sản của người chồng sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Giả sử căn nhà là tài sản chung và không có thỏa thuận về chế độ tài sản khác, có thể hình dung theo tỷ lệ như sau:
50% giá trị căn nhà là phần tài sản của người vợ.
50% còn lại là phần tài sản của người chồng để lại. Nếu hàng thừa kế thứ nhất gồm người vợ, một người con và cha, mẹ của người chồng thì phần di sản này được chia đều cho 4 người.
Khi đó, mỗi người thừa kế được hưởng 1/4 của phần 50%, tương đương 1/8 giá trị toàn bộ căn nhà, theo giả định nêu trên.
Tỷ lệ thực tế có thể thay đổi nếu có thêm người thừa kế, có di chúc hoặc có các yếu tố pháp lý khác.
Đây là điểm quan trọng trong trường hợp người vợ muốn bán nhà để thanh toán các khoản nợ.
Sau khi người chồng qua đời, người vợ có phần tài sản của mình trong căn nhà. Tuy nhiên, phần tài sản của người chồng đã trở thành di sản và thuộc quyền của những người thừa kế theo quy định.
Theo Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015, việc định đoạt tài sản chung phải tuân theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Do đó, người vợ không mặc nhiên có quyền tự mình bán toàn bộ căn nhà nếu phần tài sản của người chồng đã trở thành di sản và có những người đồng thừa kế khác.
Trong tình huống có cha, mẹ chồng và con cùng được hưởng di sản, việc bán toàn bộ căn nhà cần có sự thống nhất của những người có quyền đối với phần tài sản liên quan.
Nếu người vợ cần bán nhà nhưng những người đồng thừa kế không đồng ý, trước tiên các bên nên xác định rõ quyền sở hữu và phần di sản của từng người.
Các bên có thể thỏa thuận về việc chia di sản, nhận phần tài sản bằng tiền hoặc thống nhất phương án xử lý căn nhà theo quy định pháp luật.
Trường hợp không đạt được thỏa thuận, người có quyền lợi liên quan có thể cần thực hiện thủ tục yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc chia di sản hoặc quyền đối với tài sản theo quy định.
Đặc biệt, nếu căn nhà đang được sử dụng để bảo đảm cho khoản vay hoặc có nghĩa vụ tài chính liên quan, cần kiểm tra riêng tình trạng pháp lý của căn nhà và nghĩa vụ trả nợ trước khi thực hiện giao dịch.
.jpg)
Luật sư Dương Thu Hiền tư vấn giải quyết mâu thuẫn giữa con dâu và bố mẹ chồng. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Trước khi tiến hành bán căn nhà có người đồng sở hữu hoặc đồng thừa kế, gia đình nên kiểm tra:
Việc xác định đầy đủ các vấn đề trên giúp hạn chế tranh chấp và tránh trường hợp hợp đồng mua bán không thể hoàn tất do thiếu sự tham gia của người có quyền đối với căn nhà.
Chồng qua đời, vợ không đương nhiên được tự mình bán toàn bộ căn nhà nếu căn nhà là tài sản chung của vợ chồng. Phần tài sản của người chồng sau khi qua đời trở thành di sản và được chia theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Trong trường hợp không có di chúc, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất có thể cùng có quyền đối với phần di sản. Vì vậy, trước khi bán toàn bộ căn nhà, cần xác định chính xác phần quyền của từng người và thực hiện thủ tục thừa kế, phân chia tài sản theo quy định.
Nhà Đất Chính Chủ – nhadatchinhchu.com.vn cung cấp thông tin tham khảo về pháp lý nhà đất, giao dịch bất động sản và các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu, sử dụng nhà đất.